Home » Nhà Nông
Phát hiện củ cải khổng lồ nặng hơn 2 kg tại Đức Trọng
06:41 |
Phát hiện củ cải nặng 2,2 kg tại Đức Trọng, củ cải nặng gấp 6-7 lần củ cải bình thường
Trong lúc đang làm việc bình thường như mọi người thì một người làm công cho ông Bảo cảm thấy bất thường khi nhổ đến giữa ruộng cải bỗng bất ngờ gặp phải cặp cải trắng to lớn không thể nhổ bằng tay. Khi nhiều người đến phụ đào cặp củ cải này lên, ai cũng ngạc nhiên vì hai củ cải trắng này to lớn bất thường - gấp nhiều lần so với củ cải bình thường.
Ngay sau đó, những người làm công cho ông Bảo đã đưa cặp củ cải này đi cân và kết quả là Củ cải to nhất có chiều dài 54cm và nặng 2,2kg - gấp 6 đến 7 lần so với củ cải bình thường (củ cải bình thường nặng chỉ 0,3 - 0,5kg); củ cải “khổng lồ” còn lại cũng dài đến 50cm và nặng những 2,1kg.
Ông Nguyễn Quốc Bảo cho biết, giống cải trắng mà ông trồng tại vườn chỉ là giống cải trắng bình thường được trồng và chăm sóc bằng kỹ thuật như mọi nông dân khác trong vùng.
Củ cải trắng “khổng lồ” của nông dân Nguyễn Quốc Bảo chưa nặng bằng củ cải kỷ lục thế giới được xem là “quái vật” của lão nông tên là Ian Neale làm vườn ở Newport, bang Oregon của Mỹ vào năm 2011 (nặng đến 43,6kg), nhưng ở Lâm Đồng - Việt Nam, củ cải dài hơn nửa mét và trọng lượng trên 2kg thật khó tìm.
Hiện cặp củ cải “khổng lồ” này được ông Bảo đưa về nhà để trưng bày. Nhiều người dân quanh vùng khi hay tin ông Bảo có cặp củ cải khổng lồ đã đến chiêm ngưỡng và chúc mừng.
Ngay sau đó, những người làm công cho ông Bảo đã đưa cặp củ cải này đi cân và kết quả là Củ cải to nhất có chiều dài 54cm và nặng 2,2kg - gấp 6 đến 7 lần so với củ cải bình thường (củ cải bình thường nặng chỉ 0,3 - 0,5kg); củ cải “khổng lồ” còn lại cũng dài đến 50cm và nặng những 2,1kg.
Củ cải khổng lồ tại Đức Trọng
Ông Nguyễn Quốc Bảo cho biết, giống cải trắng mà ông trồng tại vườn chỉ là giống cải trắng bình thường được trồng và chăm sóc bằng kỹ thuật như mọi nông dân khác trong vùng.
Củ cải trắng “khổng lồ” của nông dân Nguyễn Quốc Bảo chưa nặng bằng củ cải kỷ lục thế giới được xem là “quái vật” của lão nông tên là Ian Neale làm vườn ở Newport, bang Oregon của Mỹ vào năm 2011 (nặng đến 43,6kg), nhưng ở Lâm Đồng - Việt Nam, củ cải dài hơn nửa mét và trọng lượng trên 2kg thật khó tìm.
Hiện cặp củ cải “khổng lồ” này được ông Bảo đưa về nhà để trưng bày. Nhiều người dân quanh vùng khi hay tin ông Bảo có cặp củ cải khổng lồ đã đến chiêm ngưỡng và chúc mừng.
K. D (Báo Lâm Đồng, 25/01/2015)
Giảm nghèo hiệu quả tại K' Nớ - Lạc Dương
02:42 |Đưng K’Nớ, Lạc Dương là xã có 99% người dân tộc thiểu số (DTTS) và địa bàn vốn có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất tỉnh Lâm Đồng. Nhưng, xã Đưng K’Nớ là 1 trong 20 tập thể, 1 trong 13 xã của tỉnh vừa được vinh dự nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh vì có thành tích xuất sắc trong quá trình thực hiện Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững giai đoạn 2009-2013.
Nhà nước chung tay, dân đồng thuận
Năm 2013, ngân sách tỉnh hỗ trợ xã Đưng K’Nớ 1 tỷ đồng để thâm canh 100ha cây trồng với 128 hộ, trong đó 97 hộ nghèo (72,9ha) và 31 hộ cận nghèo (27,1ha). Huyện Lạc Dương là địa phương triển khai thành công nhất trong tỉnh về mô hình giảm nghèo nhanh và bền vững. 2 năm 2012-2013, xã Đưng K’Nớ có 16 hộ nhận thực hiện mô hình thâm canh cà phê catimor. Năng suất bình quân cà phê 5-7 tuổi khoảng 3,64 tấn nhân/ha, tăng từ 10-15%. Do chăm sóc đúng kỹ thuật góp phần làm kéo dài chu kỳ kinh tế của cây cà phê. Mô hình nuôi gà thả vườn có 3 hộ, gà sinh trưởng phát triển tốt, trọng lượng bình quân 2,5 kg/con. Mô hình này phù hợp với trình độ, tập quán của người dân. Qua mô hình, bà con được hỗ trợ vốn, được chuyển giao khoa học kỹ thuật và nhận thức chuyển biến. Năm 2013, 8 hộ tham gia mô hình vườn-chuồng-rừng-ao đã thoát được nghèo: Rơ Ông Ha Jong, Kră Jăn Ha Liêng, Rơ Ông Ha Đông, KTol K’Jang, Rơ Ông Ha Tang, Cil Mup Ha Tang, Phi Srỗn Ha Krênh và Cil Mup Ha Buốt.
Cùng đó, Dự án xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật 2 năm 2012 và 2013 của Sở Khoa học và Công nghệ xây dựng 4 mô hình thâm canh cây cà phê, ủ phân vi sinh, chăn nuôi gà thả vườn, nuôi heo địa phương có 40 hộ tham gia. Chủ nhiệm Dự án Nguyễn Văn Quang cho biết: “Nông dân đã nắm bắt được các quy trình thâm canh cây cà phê, ủ phân vi sinh từ vỏ cà phê, nuôi heo địa phương theo hướng bán chăn thả có kiểm soát dịch bệnh, nuôi gà thả vườn hướng thịt...”. Qua triển khai các mô hình, thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo đạt từ 600-700 ngàn đồng/tháng; có hộ đạt 1.300 ngàn đồng/người/tháng.
Từ năm 2008 đến nay, triển khai Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững, xã Đưng K’Nớ từ tỷ lệ hộ nghèo 47,32% (năm 2008) còn 21,8% (năm 2013), bình quân mỗi năm giảm 8,36% - tỷ lệ cao nhất trong 4 xã nghèo của huyện Lạc Dương. Tỷ lệ hộ nghèo DTTS của xã năm 2012 là 30,77% đến năm 2013 còn 22,77%. Năm 2013, xã vượt chỉ tiêu giảm nghèo 140% do UBND huyện đặt ra. Kết thúc năm 2013, Đưng K’Nớ có mức tăng trưởng kinh tế đạt 25,5 tỷ đồng/năm; thu nhập bình quân đầu người 13,6 triệu đồng/người/năm (kế hoạch 11 triệu đồng).
Theo Phó Chủ tịch UBND huyện Lạc Dương Nguyễn Quốc Kỳ, thành công ở chỗ: Lồng ghép đầu tư sử dụng hiệu quả nguồn vốn các chương trình như 135, nông thôn mới, phát triển lâm nghiệp, vay vốn ưu đãi… Thông qua các chương trình, dự án hầu hết người dân thuộc đối tượng thụ hưởng đều được tiếp cận trực tiếp với các chính sách.
Vươn lên làm giàu?
Năm 2014, ngoài các giải pháp đồng bộ khác như tín dụng ưu đãi, khuyến nông, khuyến lâm, dạy nghề, y tế, giáo dục…, huyện Lạc Dương đang tiếp tục triển khai các mô hình tại xã nghèo như Đưng K’Nớ. Theo đó, mỗi xã từ 3-4 mô hình sản xuất rau theo quy mô “vườn rau dinh dưỡng”. Nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí giống, phân bón, vật tư lần đầu. Từ 3-5 mô hình thâm canh cây cà phê điển hình về đầu tư, thâm canh, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật… để nhân rộng trong xã. Mỗi xã có 2-3 mô hình chăn nuôi gà giống mới JDabaco từ 30-50 con, trong đó Nhà nước hỗ trợ một phần thức ăn, vắcxin, thuốc phòng trị bệnh… Năm 2014, Đưng K’Nớ sẽ mở rộng diện tích canh tác lên 641ha, tăng 12,5% so với năm 2013. Cùng đó là chuyển đổi diện tích cà phê già cỗi, cải tạo vườn cà phê để nâng năng suất và chất lượng. Tiếp tục xây dựng 8 mô hình kinh tế hộ vườn-ao-chuồng-rừng. Phát triển đàn bò lên 224 con, đàn heo 648 con, gia cầm, gia súc 3.565 con; mở rộng diện tích nuôi cá nước ngọt ở thôn Đưng Trang...
Chỉ tiêu giảm nghèo của Đưng K’Nớ năm 2014 còn 18,05%, DTTS còn 18,85%; năm 2015 còn 14,29%, DTTS còn 14,92%. Xã đang phấn đấu thu nhập bình quân đầu người đạt 15 triệu đồng/người/năm; tổng giá trị sản xuất (theo giá cố định) đạt 30,18 tỷ đồng; giải quyết 200-250 lao động có việc làm mới; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn dưới 20%; 95-100% hộ được sử dụng nước sạch; 100% hộ được sử dụng điện lưới quốc gia…
Tuy Đưng K’Nớ đã đạt được khá nhiều kết quả về giảm nghèo nhanh và bền vững nhưng dĩ nhiên không bằng lòng dừng lại. Phó Chủ tịch UBND xã Rơ Ông Ha Nhang thẳng thắn cho rằng: UBND xã và cộng đồng dân cư trong xã vẫn chưa phát huy hết tiềm năng nội lực của chính mảnh đất quê hương mình. Đó là đất đai, phát triển rừng, phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi đàn gia súc. Vì vậy, “UBND xã và gia đình hộ nghèo, hộ cận nghèo và cộng đồng dân cư phải tiếp tục học hỏi, tìm tòi để biến từ những điều kiện thuận lợi đó trở thành những giá trị đích thực trong phát triển kinh tế từ hộ gia đình, đặc biệt là hộ nghèo, hộ cận nghèo và phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, để không chỉ giảm nghèo mà vươn lên làm giàu”…
Read more…
Cán bộ hướng dẫn kỹ thuật cho ông Bon Niêng Ha Bang (bên trái) tham gia mô hình
thâm canh cà phê
Nhà nước chung tay, dân đồng thuận
Năm 2013, ngân sách tỉnh hỗ trợ xã Đưng K’Nớ 1 tỷ đồng để thâm canh 100ha cây trồng với 128 hộ, trong đó 97 hộ nghèo (72,9ha) và 31 hộ cận nghèo (27,1ha). Huyện Lạc Dương là địa phương triển khai thành công nhất trong tỉnh về mô hình giảm nghèo nhanh và bền vững. 2 năm 2012-2013, xã Đưng K’Nớ có 16 hộ nhận thực hiện mô hình thâm canh cà phê catimor. Năng suất bình quân cà phê 5-7 tuổi khoảng 3,64 tấn nhân/ha, tăng từ 10-15%. Do chăm sóc đúng kỹ thuật góp phần làm kéo dài chu kỳ kinh tế của cây cà phê. Mô hình nuôi gà thả vườn có 3 hộ, gà sinh trưởng phát triển tốt, trọng lượng bình quân 2,5 kg/con. Mô hình này phù hợp với trình độ, tập quán của người dân. Qua mô hình, bà con được hỗ trợ vốn, được chuyển giao khoa học kỹ thuật và nhận thức chuyển biến. Năm 2013, 8 hộ tham gia mô hình vườn-chuồng-rừng-ao đã thoát được nghèo: Rơ Ông Ha Jong, Kră Jăn Ha Liêng, Rơ Ông Ha Đông, KTol K’Jang, Rơ Ông Ha Tang, Cil Mup Ha Tang, Phi Srỗn Ha Krênh và Cil Mup Ha Buốt.
Cùng đó, Dự án xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật 2 năm 2012 và 2013 của Sở Khoa học và Công nghệ xây dựng 4 mô hình thâm canh cây cà phê, ủ phân vi sinh, chăn nuôi gà thả vườn, nuôi heo địa phương có 40 hộ tham gia. Chủ nhiệm Dự án Nguyễn Văn Quang cho biết: “Nông dân đã nắm bắt được các quy trình thâm canh cây cà phê, ủ phân vi sinh từ vỏ cà phê, nuôi heo địa phương theo hướng bán chăn thả có kiểm soát dịch bệnh, nuôi gà thả vườn hướng thịt...”. Qua triển khai các mô hình, thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo đạt từ 600-700 ngàn đồng/tháng; có hộ đạt 1.300 ngàn đồng/người/tháng.
Từ năm 2008 đến nay, triển khai Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững, xã Đưng K’Nớ từ tỷ lệ hộ nghèo 47,32% (năm 2008) còn 21,8% (năm 2013), bình quân mỗi năm giảm 8,36% - tỷ lệ cao nhất trong 4 xã nghèo của huyện Lạc Dương. Tỷ lệ hộ nghèo DTTS của xã năm 2012 là 30,77% đến năm 2013 còn 22,77%. Năm 2013, xã vượt chỉ tiêu giảm nghèo 140% do UBND huyện đặt ra. Kết thúc năm 2013, Đưng K’Nớ có mức tăng trưởng kinh tế đạt 25,5 tỷ đồng/năm; thu nhập bình quân đầu người 13,6 triệu đồng/người/năm (kế hoạch 11 triệu đồng).
Theo Phó Chủ tịch UBND huyện Lạc Dương Nguyễn Quốc Kỳ, thành công ở chỗ: Lồng ghép đầu tư sử dụng hiệu quả nguồn vốn các chương trình như 135, nông thôn mới, phát triển lâm nghiệp, vay vốn ưu đãi… Thông qua các chương trình, dự án hầu hết người dân thuộc đối tượng thụ hưởng đều được tiếp cận trực tiếp với các chính sách.
Vươn lên làm giàu?
Năm 2014, ngoài các giải pháp đồng bộ khác như tín dụng ưu đãi, khuyến nông, khuyến lâm, dạy nghề, y tế, giáo dục…, huyện Lạc Dương đang tiếp tục triển khai các mô hình tại xã nghèo như Đưng K’Nớ. Theo đó, mỗi xã từ 3-4 mô hình sản xuất rau theo quy mô “vườn rau dinh dưỡng”. Nhà nước hỗ trợ 100% kinh phí giống, phân bón, vật tư lần đầu. Từ 3-5 mô hình thâm canh cây cà phê điển hình về đầu tư, thâm canh, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật… để nhân rộng trong xã. Mỗi xã có 2-3 mô hình chăn nuôi gà giống mới JDabaco từ 30-50 con, trong đó Nhà nước hỗ trợ một phần thức ăn, vắcxin, thuốc phòng trị bệnh… Năm 2014, Đưng K’Nớ sẽ mở rộng diện tích canh tác lên 641ha, tăng 12,5% so với năm 2013. Cùng đó là chuyển đổi diện tích cà phê già cỗi, cải tạo vườn cà phê để nâng năng suất và chất lượng. Tiếp tục xây dựng 8 mô hình kinh tế hộ vườn-ao-chuồng-rừng. Phát triển đàn bò lên 224 con, đàn heo 648 con, gia cầm, gia súc 3.565 con; mở rộng diện tích nuôi cá nước ngọt ở thôn Đưng Trang...
Chỉ tiêu giảm nghèo của Đưng K’Nớ năm 2014 còn 18,05%, DTTS còn 18,85%; năm 2015 còn 14,29%, DTTS còn 14,92%. Xã đang phấn đấu thu nhập bình quân đầu người đạt 15 triệu đồng/người/năm; tổng giá trị sản xuất (theo giá cố định) đạt 30,18 tỷ đồng; giải quyết 200-250 lao động có việc làm mới; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn dưới 20%; 95-100% hộ được sử dụng nước sạch; 100% hộ được sử dụng điện lưới quốc gia…
Tuy Đưng K’Nớ đã đạt được khá nhiều kết quả về giảm nghèo nhanh và bền vững nhưng dĩ nhiên không bằng lòng dừng lại. Phó Chủ tịch UBND xã Rơ Ông Ha Nhang thẳng thắn cho rằng: UBND xã và cộng đồng dân cư trong xã vẫn chưa phát huy hết tiềm năng nội lực của chính mảnh đất quê hương mình. Đó là đất đai, phát triển rừng, phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi đàn gia súc. Vì vậy, “UBND xã và gia đình hộ nghèo, hộ cận nghèo và cộng đồng dân cư phải tiếp tục học hỏi, tìm tòi để biến từ những điều kiện thuận lợi đó trở thành những giá trị đích thực trong phát triển kinh tế từ hộ gia đình, đặc biệt là hộ nghèo, hộ cận nghèo và phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, để không chỉ giảm nghèo mà vươn lên làm giàu”…
Tổ hợp tác Đoàn Kết Lộc An liên kết làm giàu
19:11 |Ban đầu, họ chỉ là một nhóm nhỏ những gia đình hợp sức lại với nhau để vượt khó; dần dần, trở thành một tổ hợp tác với nguồn lực khá mạnh, duy trì nguồn lãi qua từng năm và giúp cho 80% các thành viên thoát nghèo. Sức lan tỏa trở nên mạnh mẽ khi Chương trình xây dựng Nông thôn mới (NTM) đi vào quỹ đạo. Qua 3 năm triển khai, toàn xã Lộc An (huyện Bảo Lâm) đã hình thành 80 tổ, đội, nhóm hợp tác; tổng vốn góp lên đến hàng trăm triệu đồng
Năm 2005, 11 cặp vợ chồng trẻ ở xóm 6, thôn 5, Lộc An quyết định gắn kết lại với nhau thành một nhóm để đùm bọc, giúp nhau vượt khó. Từ 11 triệu đồng vốn góp ban đầu, sau 9 năm hợp lực, số vốn đã lên đến 340 triệu đồng. Số thành viên cũng tăng lên 17 hộ và mỗi hộ góp 1 triệu đồng vốn/1 năm. Luân phiên hàng năm có 10 thành viên được vay vốn, lãi suất 1%/tháng. Từ 80% hộ nghèo ban đầu, nay 100% hộ trong nhóm là hộ khá, giàu, có “của ăn của để”. Cuối năm 2013, nhóm chính thức được UBND xã Lộc An phê duyệt trở thành Tổ hợp tác Đoàn Kết thôn 5 Lộc An. Anh Đinh Văn Hiến - Tổ trưởng Tổ hợp tác Đoàn Kết thôn 5, xã Lộc An, cho biết: “Mục đích góp vốn hỗ trợ nhau trong sản xuất chỉ là phụ, chính yếu vẫn là xây dựng tinh thần đoàn kết, tương trợ cộng đồng, hỗ trợ nhau trong cuộc sống và phát triển kinh tế”.
Mô hình tổ hợp tác này được nhân rộng và trở nên phổ biến khi xã điểm Lộc An bắt tay vào xây dựng NTM. Tiêu chí 13 “Xây dựng hình thức tổ chức sản xuất” đã tìm được đáp án. Từ Tổ hợp tác Đoàn Kết, giờ đây thôn 5 (Lộc An) đã xây dựng thêm 2 tổ là Tổ Kết Nghĩa (5 thành viên) và Tổ Liên Gia (12 thành viên). Lộc An có 16 thôn thì đã có 50% số thôn hưởng ứng thành lập tổ hợp tác. Đáng kể là tổ hợp tác chăn nuôi ở thôn 9, với 10 thành viên; 3 tổ hợp tác ở thôn 1 và 1 tổ hợp tác ở thôn 6. Ông Trần Doãn Quang - Chủ tịch Hội Nông dân Lộc An, cho biết: “Trong thời điểm kinh tế khó khăn, các nguồn vốn tín dụng ở ngân hàng và quỹ tín dụng khó tiếp cận, việc các tổ hợp tác góp vốn để tạo điều kiện cho nông dân vay vốn là một “kênh” hỗ trợ tài chính đắc lực cho nông dân. Tuy nhiên, khi đến với các tổ hợp tác, nông dân không chỉ được vay vốn, quan trọng hơn, họ được hỗ trợ về tinh thần, được tham gia vào một tổ chức tập thể gắn kết bền chặt và là chỗ dựa cho họ trong cuộc sống. Các tổ hợp tác đã tạo nên nguồn sức mạnh cộng đồng khá mạnh mẽ ở nông thôn hiện nay. Bất cứ phong trào, mô hình, hoạt động nào khi triển khai về khu dân cư, được các tổ hợp tác này bắt tay thực hiện đều có hiệu quả rất nhanh và mạnh”.
Ông Phạm Ngọc Quang - Phó Chủ tịch UBND xã Lộc An, nhận định: “Sau 3 năm xây dựng NTM, Lộc An đã xây dựng được 80 tổ, đội, nhóm hợp tác, với tổng nguồn vốn góp trên 735 triệu đồng. Kể từ khi thành lập các tổ hợp tác, đời sống nông dân trong xã được cải thiện rõ rệt. Không đơn thuần như mối quan hệ góp vốn giữa xã viên với ban chủ nhiệm trong hợp tác xã, tổ hợp tác là một đơn vị dân cư gắn kết như một gia đình, vừa hỗ trợ nhau về vật chất vừa là điểm tựa về tinh thần. Chương trình xây dựng NTM của xã khi triển khai về khu dân cư được đồng thuận rất cao, nhờ vào “tiếng nói” của những tổ hợp tác này”.
Anh Đinh Văn Hiến - Tổ trưởng Tổ hợp tác Đoàn Kết thôn 5, cho hay: “Chúng tôi lấy tên là Tổ hợp tác Đoàn Kết, vì muốn mọi thành viên phải thống nhất và đồng lòng trong mọi việc. Phương tiện sản xuất là tài sản riêng, nhưng khi cần, tất cả các thành viên trong tổ đều sử dụng chung. Kinh nghiệm áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật được các thành viên tiếp cận, chia sẻ với nhau và cùng thử nghiệm. Cách thức làm giàu được thẳng thắn trao đổi và cùng hỗ trợ nhau vươn lên”. Anh Nguyễn Duy Thành, một thành viên của Tổ Đoàn Kết, hiện là hộ giàu, với thu nhập hàng năm trên dưới 500 triệu đồng. Ngày mới tham gia tổ hợp tác, gia đình anh là hộ nghèo, chuyên trồng chè hạt. Nay, anh có trong tay 6,5ha cà phê giống mới, cho thu nhập trung bình 7 tấn/ha. Anh Thành cho biết: “Tôi muốn tham gia tổ hợp tác vì đó là “cái nôi” đã từng cưu mang tôi lúc khó khăn và là nơi giúp tôi về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm sống…”.
Thống kê trên toàn địa bàn huyện Bảo Lâm hiện có 5 HTX, 10 tổ hợp tác, hàng trăm tổ, đội liên kết sản xuất. Trào lưu hợp lực và liên kết trong sản xuất nông nghiệp đang là bàn đạp vững chắc giúp nông dân địa phương đứng vững, tạo nên sức mạnh tập thể trên lộ trình xây dựng nông thôn mới.
Read more…
![]() |
| Các thành viên Tổ hợp tác Đoàn Kết trao đổi kinh nghiệm bên vườn cà phê của anh Nguyễn Duy Thành |
Năm 2005, 11 cặp vợ chồng trẻ ở xóm 6, thôn 5, Lộc An quyết định gắn kết lại với nhau thành một nhóm để đùm bọc, giúp nhau vượt khó. Từ 11 triệu đồng vốn góp ban đầu, sau 9 năm hợp lực, số vốn đã lên đến 340 triệu đồng. Số thành viên cũng tăng lên 17 hộ và mỗi hộ góp 1 triệu đồng vốn/1 năm. Luân phiên hàng năm có 10 thành viên được vay vốn, lãi suất 1%/tháng. Từ 80% hộ nghèo ban đầu, nay 100% hộ trong nhóm là hộ khá, giàu, có “của ăn của để”. Cuối năm 2013, nhóm chính thức được UBND xã Lộc An phê duyệt trở thành Tổ hợp tác Đoàn Kết thôn 5 Lộc An. Anh Đinh Văn Hiến - Tổ trưởng Tổ hợp tác Đoàn Kết thôn 5, xã Lộc An, cho biết: “Mục đích góp vốn hỗ trợ nhau trong sản xuất chỉ là phụ, chính yếu vẫn là xây dựng tinh thần đoàn kết, tương trợ cộng đồng, hỗ trợ nhau trong cuộc sống và phát triển kinh tế”.
Mô hình tổ hợp tác này được nhân rộng và trở nên phổ biến khi xã điểm Lộc An bắt tay vào xây dựng NTM. Tiêu chí 13 “Xây dựng hình thức tổ chức sản xuất” đã tìm được đáp án. Từ Tổ hợp tác Đoàn Kết, giờ đây thôn 5 (Lộc An) đã xây dựng thêm 2 tổ là Tổ Kết Nghĩa (5 thành viên) và Tổ Liên Gia (12 thành viên). Lộc An có 16 thôn thì đã có 50% số thôn hưởng ứng thành lập tổ hợp tác. Đáng kể là tổ hợp tác chăn nuôi ở thôn 9, với 10 thành viên; 3 tổ hợp tác ở thôn 1 và 1 tổ hợp tác ở thôn 6. Ông Trần Doãn Quang - Chủ tịch Hội Nông dân Lộc An, cho biết: “Trong thời điểm kinh tế khó khăn, các nguồn vốn tín dụng ở ngân hàng và quỹ tín dụng khó tiếp cận, việc các tổ hợp tác góp vốn để tạo điều kiện cho nông dân vay vốn là một “kênh” hỗ trợ tài chính đắc lực cho nông dân. Tuy nhiên, khi đến với các tổ hợp tác, nông dân không chỉ được vay vốn, quan trọng hơn, họ được hỗ trợ về tinh thần, được tham gia vào một tổ chức tập thể gắn kết bền chặt và là chỗ dựa cho họ trong cuộc sống. Các tổ hợp tác đã tạo nên nguồn sức mạnh cộng đồng khá mạnh mẽ ở nông thôn hiện nay. Bất cứ phong trào, mô hình, hoạt động nào khi triển khai về khu dân cư, được các tổ hợp tác này bắt tay thực hiện đều có hiệu quả rất nhanh và mạnh”.
Ông Phạm Ngọc Quang - Phó Chủ tịch UBND xã Lộc An, nhận định: “Sau 3 năm xây dựng NTM, Lộc An đã xây dựng được 80 tổ, đội, nhóm hợp tác, với tổng nguồn vốn góp trên 735 triệu đồng. Kể từ khi thành lập các tổ hợp tác, đời sống nông dân trong xã được cải thiện rõ rệt. Không đơn thuần như mối quan hệ góp vốn giữa xã viên với ban chủ nhiệm trong hợp tác xã, tổ hợp tác là một đơn vị dân cư gắn kết như một gia đình, vừa hỗ trợ nhau về vật chất vừa là điểm tựa về tinh thần. Chương trình xây dựng NTM của xã khi triển khai về khu dân cư được đồng thuận rất cao, nhờ vào “tiếng nói” của những tổ hợp tác này”.
Anh Đinh Văn Hiến - Tổ trưởng Tổ hợp tác Đoàn Kết thôn 5, cho hay: “Chúng tôi lấy tên là Tổ hợp tác Đoàn Kết, vì muốn mọi thành viên phải thống nhất và đồng lòng trong mọi việc. Phương tiện sản xuất là tài sản riêng, nhưng khi cần, tất cả các thành viên trong tổ đều sử dụng chung. Kinh nghiệm áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật được các thành viên tiếp cận, chia sẻ với nhau và cùng thử nghiệm. Cách thức làm giàu được thẳng thắn trao đổi và cùng hỗ trợ nhau vươn lên”. Anh Nguyễn Duy Thành, một thành viên của Tổ Đoàn Kết, hiện là hộ giàu, với thu nhập hàng năm trên dưới 500 triệu đồng. Ngày mới tham gia tổ hợp tác, gia đình anh là hộ nghèo, chuyên trồng chè hạt. Nay, anh có trong tay 6,5ha cà phê giống mới, cho thu nhập trung bình 7 tấn/ha. Anh Thành cho biết: “Tôi muốn tham gia tổ hợp tác vì đó là “cái nôi” đã từng cưu mang tôi lúc khó khăn và là nơi giúp tôi về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm sống…”.
Thống kê trên toàn địa bàn huyện Bảo Lâm hiện có 5 HTX, 10 tổ hợp tác, hàng trăm tổ, đội liên kết sản xuất. Trào lưu hợp lực và liên kết trong sản xuất nông nghiệp đang là bàn đạp vững chắc giúp nông dân địa phương đứng vững, tạo nên sức mạnh tập thể trên lộ trình xây dựng nông thôn mới.
Lộc Châu : thoát nghèo nhờ nghề đan tre
03:01 |Trước đây, hầu hết các hộ dân làm nghề đan tre nứa tại thôn 3 và thôn 4, xã Lộc Châu (TP Bảo Lộc) đều là những hộ nghèo, không có đất sản xuất hoặc chỉ có một vài sào chè, nên cuộc sống gặp nhiều khó khăn. Thế nhưng, chính nghề đan tre nứa đã giúp họ “vực dậy” đời sống và thoát khỏi cảnh nghèo khó.
Lộc Châu là một xã thuần nông, người dân sống chủ yếu dựa vào cây chè và cà phê. Nhưng, giờ đây khi đến thôn 3 và thôn 4, chúng tôi được chứng kiến không khí nhà nhà cùng nhau đan tre nứa để tăng thêm thu nhập, ổn định cuộc sống. Theo thống kê, hiện nay có khoảng 100 hộ dân đang làm nghề đan tre nứa, chiếm 30% tổng số hộ của 2 thôn. Trước đây, người làm nghề đan tre nứa tại đây chủ yếu đan các mặt hàng phục vụ cho nhu cầu sản xuất tại địa phương, như gùi hái chè, né và nong để nuôi tằm. Nhưng hiện nay, sản phẩm mà họ làm ra rất đa dạng, như rổ đựng cá hấp, sọt đựng rau, củ quả, né nuôi tằm và lẵng cắm hoa… Trong đó, rổ đựng hấp cá chính là mặt hàng được tiêu thụ hiệu quả nhất.
Công việc đan rổ đang thu hút tới 2/3 lao động đang làm nghề đan tre nứa nơi đây tham gia. Tuy mỗi chiếc rổ chỉ bán với giá 2 ngàn đồng, nhưng đầu ra luôn ổn định, nên bà con làm nghề ai cũng phấn khởi. Bà Đoàn Thị Quyên, một hộ dân đan rổ đựng cá hấp tại thôn 4, cho hay: “Vì không có đất để sản xuất, trước đây vợ chồng tôi phải đi làm thuê làm mướn để kiếm sống. Làm thuê cực lắm, nhưng cũng chỉ đủ ăn, nghèo vẫn hoàn nghèo. Còn từ khi bước vào đan rổ đựng cá hấp đến nay, thu nhập của 3 người trong gia đình tôi ít nhất cũng được từ 200 - 250 ngàn đồng/ngày. Cũng nhờ vậy, gia đình tích góp xây được căn nhà, mua được ti vi và cả xe máy. Hiện nay, những chiếc rổ mà gia đình tôi và các hộ trong thôn làm ra đều có người đến thu mua. Vì thế, chúng tôi luôn có việc làm quanh năm và thu nhập cũng khá”.
Nghề đan tre nứa không chỉ tạo việc làm thường xuyên cho đông đảo lao động tại đây, mà nó còn giúp một số hộ mở xưởng để kinh doanh. Người trực tiếp thu mua rổ hấp cá của người dân làm ra để xuất bán đi các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận là ông Lê Quang Đức (ngụ tại thôn 4). Hiện nay, ông Đức vừa là Chi hội trưởng Chi hội Nghề nghiệp đan tre nứa xã Lộc Châu; đồng thời, là “cầu nối” tiêu thụ sản phẩm cho người dân. Ông Đức cho biết: “Rổ đựng cá hấp là sản phẩm chỉ sử dụng 1 lần, nên nhu cầu tiêu thụ rất lớn. Hiện nay, với lượng rổ được người dân làm ra vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng của các ngư dân ở Bình Thuận và Ninh Thuận. Từ lúc tôi đứng ra mở xưởng thu mua rổ cho bà con đến nay, chưa lúc nào hàng bị tồn kho. Đặc biệt, vào mùa biển lặng, ngư dân đánh bắt được nhiều cá thì ngày nào cũng có xe ô tô lên lấy hàng”.
Cùng với rổ đựng cá hấp đang là sản phẩm thu hút nhiều lao động, thì người dân nơi đây còn tranh thủ thời gian lúc nhàn rỗi để đan né tằm, sọt đựng rau củ quả và cả lẵng cắm hoa. Ông Đoàn Đức Bé, người chuyên đan né tằm tại thôn 3, tâm sự: “Gia đình tôi làm nghề đan né tằm đã được hơn chục năm nay. Tôi cùng con trai lớn đảm nhiệm việc đi lấy nguyên liệu, còn vợ và con trai út ở nhà phụ trách việc đan. Hiện nay, người thu mua né tằm nhiều hơn trước, nên đan né mang lại cho gia đình tôi nguồn thu nhập ổn định từ 4 - 5 triệu đồng/tháng”. Còn anh Thái Hồng Thanh, người duy nhất làm lẵng cắm hoa tại thôn 4, nói: “Hiện nay, trong cả 2 thôn, người làm nghề đan tre nứa rất nhiều, nhưng mới chỉ có mình tôi làm lẵng cắm hoa. Mỗi tháng, một mình tôi cũng kiếm được khoảng 7 triệu đồng từ nghề này”.
Bà Phạm Thị Thu Hằng, Phó Chủ tịch UBND xã Lộc Châu, cho biết: “Trong những năm qua, nghề đan tre nứa tại thôn 3 và thôn 4 đã và đang tạo việc làm cho trên 300 lao động, với mức thu nhập khoảng 3,5 triệu đồng/người/tháng. Với thực tế đó, nghề đan tre nứa đã giúp hàng chục hộ dân tại 2 thôn này của xã thoát được cảnh nghèo, ổn định cuộc sống và từng bước vươn lên. Để tạo tiền đề cho nghề đan tre nứa phát triển, năm 2009, Hội Nông dân xã đã chủ động thành lập Chi hội Nghề nghiệp đan tre nứa. Sau khi thành lập, Chi hội có nhiệm vụ tìm “đầu ra”; đồng thời, tạo điều kiện để các hội viên học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm làm nghề. Song, hiện nay khó khăn lớn nhất là nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm. Vì vậy, nhiều hộ dành đất trồng tre để chủ động nguồn nguyên liệu tại chỗ và duy trì nghề”.
Read more…
Đan tre nứa ở thôn 3 và thôn 4 (xã Lộc Châu) |
Lộc Châu là một xã thuần nông, người dân sống chủ yếu dựa vào cây chè và cà phê. Nhưng, giờ đây khi đến thôn 3 và thôn 4, chúng tôi được chứng kiến không khí nhà nhà cùng nhau đan tre nứa để tăng thêm thu nhập, ổn định cuộc sống. Theo thống kê, hiện nay có khoảng 100 hộ dân đang làm nghề đan tre nứa, chiếm 30% tổng số hộ của 2 thôn. Trước đây, người làm nghề đan tre nứa tại đây chủ yếu đan các mặt hàng phục vụ cho nhu cầu sản xuất tại địa phương, như gùi hái chè, né và nong để nuôi tằm. Nhưng hiện nay, sản phẩm mà họ làm ra rất đa dạng, như rổ đựng cá hấp, sọt đựng rau, củ quả, né nuôi tằm và lẵng cắm hoa… Trong đó, rổ đựng hấp cá chính là mặt hàng được tiêu thụ hiệu quả nhất.
Công việc đan rổ đang thu hút tới 2/3 lao động đang làm nghề đan tre nứa nơi đây tham gia. Tuy mỗi chiếc rổ chỉ bán với giá 2 ngàn đồng, nhưng đầu ra luôn ổn định, nên bà con làm nghề ai cũng phấn khởi. Bà Đoàn Thị Quyên, một hộ dân đan rổ đựng cá hấp tại thôn 4, cho hay: “Vì không có đất để sản xuất, trước đây vợ chồng tôi phải đi làm thuê làm mướn để kiếm sống. Làm thuê cực lắm, nhưng cũng chỉ đủ ăn, nghèo vẫn hoàn nghèo. Còn từ khi bước vào đan rổ đựng cá hấp đến nay, thu nhập của 3 người trong gia đình tôi ít nhất cũng được từ 200 - 250 ngàn đồng/ngày. Cũng nhờ vậy, gia đình tích góp xây được căn nhà, mua được ti vi và cả xe máy. Hiện nay, những chiếc rổ mà gia đình tôi và các hộ trong thôn làm ra đều có người đến thu mua. Vì thế, chúng tôi luôn có việc làm quanh năm và thu nhập cũng khá”.
Nghề đan tre nứa không chỉ tạo việc làm thường xuyên cho đông đảo lao động tại đây, mà nó còn giúp một số hộ mở xưởng để kinh doanh. Người trực tiếp thu mua rổ hấp cá của người dân làm ra để xuất bán đi các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận là ông Lê Quang Đức (ngụ tại thôn 4). Hiện nay, ông Đức vừa là Chi hội trưởng Chi hội Nghề nghiệp đan tre nứa xã Lộc Châu; đồng thời, là “cầu nối” tiêu thụ sản phẩm cho người dân. Ông Đức cho biết: “Rổ đựng cá hấp là sản phẩm chỉ sử dụng 1 lần, nên nhu cầu tiêu thụ rất lớn. Hiện nay, với lượng rổ được người dân làm ra vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng của các ngư dân ở Bình Thuận và Ninh Thuận. Từ lúc tôi đứng ra mở xưởng thu mua rổ cho bà con đến nay, chưa lúc nào hàng bị tồn kho. Đặc biệt, vào mùa biển lặng, ngư dân đánh bắt được nhiều cá thì ngày nào cũng có xe ô tô lên lấy hàng”.
Cùng với rổ đựng cá hấp đang là sản phẩm thu hút nhiều lao động, thì người dân nơi đây còn tranh thủ thời gian lúc nhàn rỗi để đan né tằm, sọt đựng rau củ quả và cả lẵng cắm hoa. Ông Đoàn Đức Bé, người chuyên đan né tằm tại thôn 3, tâm sự: “Gia đình tôi làm nghề đan né tằm đã được hơn chục năm nay. Tôi cùng con trai lớn đảm nhiệm việc đi lấy nguyên liệu, còn vợ và con trai út ở nhà phụ trách việc đan. Hiện nay, người thu mua né tằm nhiều hơn trước, nên đan né mang lại cho gia đình tôi nguồn thu nhập ổn định từ 4 - 5 triệu đồng/tháng”. Còn anh Thái Hồng Thanh, người duy nhất làm lẵng cắm hoa tại thôn 4, nói: “Hiện nay, trong cả 2 thôn, người làm nghề đan tre nứa rất nhiều, nhưng mới chỉ có mình tôi làm lẵng cắm hoa. Mỗi tháng, một mình tôi cũng kiếm được khoảng 7 triệu đồng từ nghề này”.
Bà Phạm Thị Thu Hằng, Phó Chủ tịch UBND xã Lộc Châu, cho biết: “Trong những năm qua, nghề đan tre nứa tại thôn 3 và thôn 4 đã và đang tạo việc làm cho trên 300 lao động, với mức thu nhập khoảng 3,5 triệu đồng/người/tháng. Với thực tế đó, nghề đan tre nứa đã giúp hàng chục hộ dân tại 2 thôn này của xã thoát được cảnh nghèo, ổn định cuộc sống và từng bước vươn lên. Để tạo tiền đề cho nghề đan tre nứa phát triển, năm 2009, Hội Nông dân xã đã chủ động thành lập Chi hội Nghề nghiệp đan tre nứa. Sau khi thành lập, Chi hội có nhiệm vụ tìm “đầu ra”; đồng thời, tạo điều kiện để các hội viên học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm làm nghề. Song, hiện nay khó khăn lớn nhất là nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm. Vì vậy, nhiều hộ dành đất trồng tre để chủ động nguồn nguyên liệu tại chỗ và duy trì nghề”.
KHÁNH PHÚC
Trồng hoa ly tại Bảo Lộc mang lại hiệu quả kinh tế cao
01:25 |Được Sở Khoa học và Công nghệ Lâm Đồng hỗ trợ kinh phí, Phòng Kinh tế TP.Bảo Lộc phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao kỹ thuật cây công nghiệp và cây ăn quả Lâm Đồng triển khai mô hình trồng hoa lily (các giống Sorbonne, Conca D'or, Robina) với diện tích 100m2 (2.000 củ) trong điều kiện nhà kín.
Sau gần 90 ngày trồng và chăm sóc, cây hoa lily sinh trưởng và phát triển tốt, thân mập với đường kính gốc đạt 1-1,2cm, lá đẹp và sáng, bình quân 38 lá/cây. Qua kiểm tra số hoa/cây thấy, có 20% số cây đạt 5-6 hoa, 60% số cây có 7- 8 hoa và 20% số cây có 9-11 hoa. Nụ dài từ 10-12cm, đường kính nụ bình quân 4,2cm, hoa nở có đường kính 18 - 20cm. Độ bền hoa cắt đạt 10-12 ngày. Nếu trồng trong chậu, độ bền của hoa có thể kéo dài 20 ngày.
Thực tế thấy, những giống hoa lily được trồng tại Bảo Lộc cho chất lượng hoa không thua kém gì so với trồng ở TP.Đà Lạt. Kết quả này thu hút sự quan tâm của đông đảo bà con, nhiều nông dân trên địa bàn mong muốn được tập huấn kỹ thuật, hỗ trợ vốn nhân rộng mô hình nhằm chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
Sự thành công của mô hình này tạo cơ hội giúp nông dân có thêm nghề trồng hoa mới, phù hợp với hộ có diện tích nhỏ, góp phần tăng thu nhập; góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở địa phương theo hướng ứng dụng công nghệ cao, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tiến tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Read more…
Sau gần 90 ngày trồng và chăm sóc, cây hoa lily sinh trưởng và phát triển tốt, thân mập với đường kính gốc đạt 1-1,2cm, lá đẹp và sáng, bình quân 38 lá/cây. Qua kiểm tra số hoa/cây thấy, có 20% số cây đạt 5-6 hoa, 60% số cây có 7- 8 hoa và 20% số cây có 9-11 hoa. Nụ dài từ 10-12cm, đường kính nụ bình quân 4,2cm, hoa nở có đường kính 18 - 20cm. Độ bền hoa cắt đạt 10-12 ngày. Nếu trồng trong chậu, độ bền của hoa có thể kéo dài 20 ngày.
Thực tế thấy, những giống hoa lily được trồng tại Bảo Lộc cho chất lượng hoa không thua kém gì so với trồng ở TP.Đà Lạt. Kết quả này thu hút sự quan tâm của đông đảo bà con, nhiều nông dân trên địa bàn mong muốn được tập huấn kỹ thuật, hỗ trợ vốn nhân rộng mô hình nhằm chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
![]() |
| Hoa Ly tại Bảo Lộc mang lại hiệu quả cao |
Sự thành công của mô hình này tạo cơ hội giúp nông dân có thêm nghề trồng hoa mới, phù hợp với hộ có diện tích nhỏ, góp phần tăng thu nhập; góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở địa phương theo hướng ứng dụng công nghệ cao, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tiến tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Nguồn:kinhtenongthon.com.vn
Nuôi giun quế mang lại thu nhập cao tại Bảo Lộc
01:20 |Hiện nay, tại thành phố Bảo Lộc, bắt đầu xuất hiện một số nông dân nuôi giun (trùn) quế. Mô hình này vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao vừa bảo vệ được môi trường, do tận dụng lượng chất thải trong chăn nuôi.
Ông Nguyễn Văn Tân (thôn Tân Lập, xã Lộc Châu, TP Bảo Lộc) là một trong những người đầu tiên của xã đưa giun quế về nuôi thí điểm. Trước đó, gia đình ông Tân đã phát triển đàn bò sữa có 12 con. Tuy nhiên, do nguồn vốn ít nên việc làm chuồng trại và cách xử lý chất thải từ nuôi bò chưa thực sự đảm bảo môi trường. Do đó, người dân xung quanh thường phàn nàn ông về việc chăn nuôi bò gây ô nhiễm môi trường. Gia đình ông Tân đã tìm cách xử lý chất thải bằng cách xây hầm biogas, bán phân bò với giá rẻ… Trong thời gian này, ông được Công ty Trùn quế An Phú (huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh) tư vấn, giới thiệu về mô hình nuôi giun quế. Từ đó, ông nảy sinh ý tưởng xây dựng mô hình nuôi giun quế.
Đến nay, sau 6 tháng nuôi thử nghiệm, gia đình ông Tân đã nuôi 4 luống giun với diện tích 200 m2. Ông Tân cho biết: “Hiện nay, mỗi kg sinh khối (chất liệu ban đầu dùng nuôi giun) mua với giá 8 ngàn đồng. Cứ mỗi mét vuông thì bỏ 20 kg sinh khối. Sau một tháng rưỡi sẽ cho thu hoạch. Điều đặc biệt là nuôi giun chỉ cần mua giống một lần. Sau đó, giun tự sinh sản và phát triển. Hiện tại, cứ một tháng rưỡi, gia đình tôi thu được khoảng 300 kg giun. Công ty An Phú thu mua với giá 30 ngàn đồng/kg. Trừ các chi phí, bình quân mỗi tháng gia đình tôi thu được khoảng 8 triệu đồng. Về kỹ thuật, cần lưu ý giun rất sợ ánh sáng, nên khi làm chuồng cần che kín để tránh ánh sáng lọt vào. Luống nuôi nên làm sâu 40 cm, rộng trên 1m và phải lát nền để tránh giun bò mất”. Nuôi giun không những mang lại nguồn thu nhập cho gia đình mà còn giúp làm sạch môi trường xung quanh. Đàn bò 12 con của nhà ông mỗi ngày thải ra hàng trăm kg chất thải. Lượng chất thải này, giờ đây sử dụng cho giun quế “ăn” hàng ngày, nên ông Tân không phải lo nghĩ cách xử lý chất thải nữa.
Giun quế được dùng để chế biến thức ăn chăn nuôi cá, tôm và gia cầm. Hiện, Công ty An Phú đã ký hợp đồng thu mua toàn bộ lượng giun quế của gia đình ông Tân. Công ty cũng đang khuyến khích bà con nơi đây nhân rộng mô hình này. Khi mô hình được nhân rộng, Công ty sẽ trực tiếp tới tận nơi để thu mua. Theo ông Tân, nuôi giun ít bị rủi ro, kỹ thuật đơn giản, tốn ít công chăm sóc, lại sớm có thu nhập. Đây là mô hình thích hợp cho những hộ chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ.
Ông K’Huân, Chủ tịch Hội Nông dân xã Lộc Châu, cho biết: “Mô hình nuôi giun quế của ông Tân là một mô hình đặc biệt, vừa cho thu nhập đáng kể, lại vừa làm sạch môi trường. Vốn đầu tư để nuôi giun không cao, thích hợp với người nông dân nên đây là mô hình lý tưởng để kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm. Chúng tôi đã đề nghị UBND xã có kế hoạch nhân rộng mô hình. Tới đây, xã sẽ cho bà con đến tham quan mô hình nuôi giun quế của ông Tân để học hỏi kinh nghiệm”.
Read more…
Ông Nguyễn Văn Tân (thôn Tân Lập, xã Lộc Châu, TP Bảo Lộc) là một trong những người đầu tiên của xã đưa giun quế về nuôi thí điểm. Trước đó, gia đình ông Tân đã phát triển đàn bò sữa có 12 con. Tuy nhiên, do nguồn vốn ít nên việc làm chuồng trại và cách xử lý chất thải từ nuôi bò chưa thực sự đảm bảo môi trường. Do đó, người dân xung quanh thường phàn nàn ông về việc chăn nuôi bò gây ô nhiễm môi trường. Gia đình ông Tân đã tìm cách xử lý chất thải bằng cách xây hầm biogas, bán phân bò với giá rẻ… Trong thời gian này, ông được Công ty Trùn quế An Phú (huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh) tư vấn, giới thiệu về mô hình nuôi giun quế. Từ đó, ông nảy sinh ý tưởng xây dựng mô hình nuôi giun quế.
![]() |
| Nuôi giun quế Bảo Lộc |
Đến nay, sau 6 tháng nuôi thử nghiệm, gia đình ông Tân đã nuôi 4 luống giun với diện tích 200 m2. Ông Tân cho biết: “Hiện nay, mỗi kg sinh khối (chất liệu ban đầu dùng nuôi giun) mua với giá 8 ngàn đồng. Cứ mỗi mét vuông thì bỏ 20 kg sinh khối. Sau một tháng rưỡi sẽ cho thu hoạch. Điều đặc biệt là nuôi giun chỉ cần mua giống một lần. Sau đó, giun tự sinh sản và phát triển. Hiện tại, cứ một tháng rưỡi, gia đình tôi thu được khoảng 300 kg giun. Công ty An Phú thu mua với giá 30 ngàn đồng/kg. Trừ các chi phí, bình quân mỗi tháng gia đình tôi thu được khoảng 8 triệu đồng. Về kỹ thuật, cần lưu ý giun rất sợ ánh sáng, nên khi làm chuồng cần che kín để tránh ánh sáng lọt vào. Luống nuôi nên làm sâu 40 cm, rộng trên 1m và phải lát nền để tránh giun bò mất”. Nuôi giun không những mang lại nguồn thu nhập cho gia đình mà còn giúp làm sạch môi trường xung quanh. Đàn bò 12 con của nhà ông mỗi ngày thải ra hàng trăm kg chất thải. Lượng chất thải này, giờ đây sử dụng cho giun quế “ăn” hàng ngày, nên ông Tân không phải lo nghĩ cách xử lý chất thải nữa.
Giun quế được dùng để chế biến thức ăn chăn nuôi cá, tôm và gia cầm. Hiện, Công ty An Phú đã ký hợp đồng thu mua toàn bộ lượng giun quế của gia đình ông Tân. Công ty cũng đang khuyến khích bà con nơi đây nhân rộng mô hình này. Khi mô hình được nhân rộng, Công ty sẽ trực tiếp tới tận nơi để thu mua. Theo ông Tân, nuôi giun ít bị rủi ro, kỹ thuật đơn giản, tốn ít công chăm sóc, lại sớm có thu nhập. Đây là mô hình thích hợp cho những hộ chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ.
Ông K’Huân, Chủ tịch Hội Nông dân xã Lộc Châu, cho biết: “Mô hình nuôi giun quế của ông Tân là một mô hình đặc biệt, vừa cho thu nhập đáng kể, lại vừa làm sạch môi trường. Vốn đầu tư để nuôi giun không cao, thích hợp với người nông dân nên đây là mô hình lý tưởng để kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm. Chúng tôi đã đề nghị UBND xã có kế hoạch nhân rộng mô hình. Tới đây, xã sẽ cho bà con đến tham quan mô hình nuôi giun quế của ông Tân để học hỏi kinh nghiệm”.
KHÁNH PHÚC
Mở rộng mô hình trồng nấm cao cấp tại Bảo Lộc
01:13 |Nếu như trước đây, người trồng nấm ở Bảo lộc gần như chỉ tập trung vào sản xuất giống nấm mèo bởi có đầu ra ổn định (dù không đem lại giá trị kinh tế cao) và cũng không đòi hỏi kỹ thuật cao trong nuôi trồng. Nay, các loại nấm cao cấp như sò đùi gà, bào ngư nhật, bào ngư xám… đã được các hộ trồng nấm mạnh dạn đưa vào sản xuất, bởi ngoài lợi ích kinh tế họ còn không phải phụ thuộc vào nguồn cung cấp giống.
Read more…
Ông Nguyễn Đăng Định - Trưởng nhóm nghiên cứu đề tài nấm của Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Nông lâm nghiệp Lâm Đồng-Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên cho biết: "Không như ở Đà Lạt và các vùng lân cận, người nông dân Bảo Lộc thường không mấy quan tâm tới việc sản xuất các loài nấm, bởi họ không chủ động được nguồn giống, nhất là các giống nấm cao cấp đang được tiêu thụ rất mạnh trên thị trường nội địa
Những ai muốn sản xuất các loại nấm như sò đùi gà, kim châm, bào ngư... đều phải lấy giống gốc từ Đà Lạt hoặc TP.Hồ Chí Minh, chi phí giá thành, vận chuyển đều rất cao. Vì vậy, Trung tâm đã có khảo sát, nghiên cứu và cho thành lập đề tài cấy mô các giống nấm trên, qua đó giúp cho người trồng nấm ở Bảo Lộc và các vùng lân cận có thể chủ động được nguồn giống cũng như thuận lợi trong việc đẩy mạnh sản xuất các loại nấm cao cấp".
Hiện nay, Trung tâm đã lập được khu nuôi giống cấp 1 với 14 loại nấm, trong đó tập trung phát triển 3 loại nấm sò đùi gà, bào ngư nhật và bào ngư xám tại các mô hình ở các xã Đạm B'ri, Đại Lào (TP.Bảo Lộc).
Anh Nguyễn Xuân Hồng - cán bộ kỹ thuật của trung tâm cho biết: "Được triển khai từ tháng 11/2011, 3 loại nấm được trung tâm triển khai trực tiếp tại các hộ dân đang phát triển rất tốt, bước đầu cho năng suất khá cao, tai nấm ra nhiều, chân nấm dài và ít mắc bệnh".
Theo anh Nguyễn Đăng Tiền - Thôn 4, xã Đạm B'ri, một trong những người đầu tiên mạnh dạn sử dụng các loại giống nấm mới của Trung tâm thì: Trồng các loại nấm cao cấp như bào ngư nhật, sò đùi gà đầu tư ban đầu không đáng kể nhưng đem lại thu nhập ổn định. Bởi các giò nấm cũ trước đây trồng nấm mèo sẽ được hấp lại, xử lý vi sinh nên giá thành không cao và đây cũng là ưu điểm bởi các loại nấm cao cấp đem trồng ở các giò nấm cũ phát triển rất thuận lợi. Cũng theo tìm hiểu của chúng tôi, các loại nấm như bào ngư, sò đùi gà trồng tại các gia đình ở Đại Lào, Đạm B'ri cho thu hoạch từng ngày và được các tiểu thương Bảo Lộc thu mua tận nơi với giá 12 đến 13 ngàn đồng/kg (cao gần gấp đôi so với nấm mèo tươi). Với thành công ban đầu của những hộ trồng thử nghiệm các loại giống nấm mới của Trung tâm, nông dân TP.Bảo Lộc và vùng lân cận đã có thể chủ động được nguồn giống và yên tâm phát triển mạnh các loại nấm cao cấp, đem lại giá trị kinh tế cao như sò đùi gà, bào ngư nhật, bào ngư xám, kim châm ...
Phận đời 1 nắng 2 sương dưới tán chè
19:03 |Từ đôi bàn tay gầy guộc, sau những giọt mồ hôi mặn đắng lẫn trong làn sương mảnh, những giọt trà tinh khiết nổi tiếng đã được họ - những người nông dân lam lũ chắt lọc làm nên thương hiệu của những trà ô long, túy ngọc, tuyết shan trên mảnh đất Bảo Lộc (tỉnh Lâm Đồng) này.
Thoạt nhìn, tôi như bị thôi miên bởi những triền đồi thoai thoải nối tiếp nhau, mìn mịn như làn da con gái cong cong một màu non xanh của những ruộng trà liền kề sau khi vượt qua những khúc cua thăm thẳm của cung đèo Bảo Lộc (tỉnh Lâm Đồng). Tất cả hiện lên, trải ra trước mắt như một thước phim chầm chậm sau những vòng xe, như một bức tranh hài hòa trước ánh nắng mặt trời rực rỡ khiến chúng tôi như bị lạc vào một thế giới khác. Một thế giới đẹp đẽ và thơm lừng mùi hương của trà, của đất, của mồ hôi và của những tích tụ ngàn năm nơi thung lũng cao nguyên màu mỡ, trù phú này.
Từ lâu, do địa hình thung lũng cao nguyên nên nơi đây được mệnh danh bằng cái tên khá thân thiện - thành phố mù sương, bởi quanh năm sương mờ cứ giăng mắc khắp các ngóc ngách nơi này. Quả thật, từ sáng sớm, khi theo chân người bạn đồng hành đi về phía những đồi trà ven ngoại ô thành phố, chúng tôi như bị chìm đi trong làn sương mờ ảo. Một cảm giác mông lung, nhập nhòa giữa trời đất, giữa con người và vật, giữa hư vô và thực tại khiến bao nhiêu mệt nhọc, lo toan đã bị sương lắng xuống để người ta được chìm vào một thế giới khác. Thế giới của trà và trà. Theo quan sát của chúng tôi, tất cả những công nhân hái trà ở đây đều có một đặc điểm chung, đó là luôn đội một chiếc nón trắng để che nắng vì họ phải làm việc cả ngày dưới ánh mặt trời mà thường đeo một chiếc gùi trên vai để đựng sản phẩm của mình. Những chiếc nón kia cứ lặng lẽ, cần mẫn mà ít khi ngẩng lên. Dưới những bóng nón đó, những phận người cũng cần mẫn, chăm chỉ với công việc của mình. Công việc làm lên những giọt trà tinh khiết của mảnh đất này.
Thoạt nhìn, công việc của người hái trà khá đơn giản nhưng xem kỹ, nó cũng rất tỷ mỷ. Cụ thể, theo chị Ka Sâm - một công nhân hái trà ở Đại Lào (TP.Bảo Lộc) thì không phải cứ vặt búp trà là được mà phải vặt sao cho búp trà thu được có đúng 2 lá 1 tôm thì chủ họ mới chấp nhận, bởi trà ở đây đều làm để xuất khẩu, để phục vụ những khách uống trà sành điệu. Trà mà hái không đạt chuẩn, có nhiều lá quá cũng không được bởi lúc chế biến, lá sẽ làm giảm vị thơm ngon, mất đi tinh chất của trà. Còn nếu ít lá, khi sao trà sẽ bị teo nhỏ, nhìn không đẹp mắt. Có thể nói, mỗi búp trà là sự kết hợp giữ đọt tôm và lá non. Ở đó, lá non nhiều sẽ làm trà thêm đắng mà lá ít thì sẽ làm trà thêm nhạt. Chính vì sự cầu kỳ và chính xác mà người hái trà cũng phải làm việc thận trọng hơn.
Có một sự thực trớ trêu là mặc dù những thương hiệu trà ô long, túy ngọc, kim tuyên…được đông đảo người dân cả nước biết đến bởi sự tinh tế, độc đáo nhưng với những công nhân hái trà này, nó như một thứ đặc sản xa xôi. Hình như, không riêng gì những công nhân hái trà, mà hầu hết những người nông dân khác, những đôi bàn tay trực tiếp tạo ra những sản phẩm kiểu đặc sản của vùng đất ấy lại ít khi được thưởng thức sản phẩm của mình.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, thực ra "vương quốc” trà Bảo Lộc không chỉ gói gọn trong phạm vi của thành phố Bảo Lộc mà nó còn lan rộng ra cả các huyện lân cận cho tới cao nguyên Di Linh, giáp ranh với thành phố Đà Lạt do thổ nhưỡng và khí hậu của chúng khá tương đồng. Dọc theo các tuyến quốc lộ 20, quốc lộ 55, quốc lộ 28 và những tỉnh lộ trải nhựa đan xen là những ruộng trà trải dài. Sự tích cây trà trên cao nguyên này có từ khi người Pháp lần đầu đặt chân tới đây nhưng nó chỉ thực sự phát triển thành thương hiệu với hàng trăm ngàn hecta trong vài chục năm trở lại đây mà thôi. Vì thế, ngoài những cây trà shan cổ thụ, ở Bảo Lộc trà có độ tuổi chừng 30 năm và được hình thành bởi các làng, chủ yếu là người dân nhập cư ở miền xuôi lên, trong đó có cả những người ngoại quốc, đặc biệt là Đài Loan. Họ thường là các ông chủ đầu tư tiền của để làm trang trại trà, có khi rộng tới hàng chục hecta.
Giọt thơm từ đất lành
Mặt trời lên cao, sương mờ tan nhanh cũng là lúc chúng tôi nhận ra rằng, cuộc sống của những công nhân hái trà mà đa phần là phụ nữ, người già này không đẹp đẽ, nên thơ như những đồi trà mà chúng tôi nhìn thấy từ xa xa ven đường quốc lộ 20 chạy vắt ngang thành phố. Với họ, những nông dân nghèo xứ cao nguyên này, cuộc mưu sinh lúc nào cũng luôn chật vật và bấp bênh. Theo tìm hiểu, bắt đầu từ tháng 4, khi những cơn mưa phùn xuất hiện nơi này cũng là lúc những đồi trà nảy lên vô vàn lộc biếc, mầm non để tạo cho đời những nụ trà thơm hương. Nó không chỉ là lộc của cây mà còn là lộc của trời, của đất giao hòa, chắt chiu từ hàng ngàn năm qua, dưới trầm tích của những lớp đất đỏ bazan màu mỡ nơi đây. Theo chị Ka Thái, một nông dân ở xã Lộc Thành (huyện Bảo Lâm) thì từ khoảng 5 giờ sáng là chị cùng mấy chục người trong xóm lại cùng nhau đem bao bố lên những đồi trà này để hái. Công việc cũng khá đơn giản nhưng vất vả bởi phải làm việc liên tục lại vừa phải di chuyển. Mỗi người đều trang bị cho mình một chiếc gùi bằng tre đeo trên lưng. Họ di chuyển qua những luống trà, hai tay hái những chiếc búp non liên tục. Tiền công hái sẽ được các chủ trang trại trà tính theo sản phẩm. Cụ thể, mỗi ký búp trà sẽ được trả 3.000 đồng. Trung bình, một người có thể hái được từ 15 đến 25 ký lô búp trà một ngày, tùy theo sức khỏe. Hiện đang là đầu vụ trà nên giá công thấp hơn so với mặt bằng chung bởi có nhiều đồi trà, lượng mưa chưa đủ nên búp chưa xuất hiện. Theo chị Ka, khoảng chừng hơn nửa tháng nữa mưa nhiều cũng là lúc trà nảy búp, công nhân thường hái không kịp. Khi ấy, để đảm bảo năng suất và tránh việc lãng phí do búp trà già đi, các chủ thường tăng lương cho công nhân hái. Nhiều trang trại trả từ 3.500 đến 4.000 đồng/ký búp trà còn kèm theo cả một ổ bánh mì thịt vào mỗi sáng để thu hút lao động. Sau đó, công nhân đem trà về trang trại và được trả công hàng tuần bằng tổng số lượng trà mình hái được.
Mặc dù công việc hái trà khá vất vả bởi phải di chuyển trên những triền đồi thoai thoải nhưng dường như với những người công nhân này, đó vẫn là niềm hạnh phúc bởi họ chỉ có 5 tháng trong một năm để gắn bó với công việc của mình. Từ đầu tháng 4 cho tới tháng 8, khi mưa phùn ít đi cũng là lúc trà không thể ra búp non nữa. Vì vậy, những người phụ nữ ở đây đều tranh thủ thời gian này để đi hái trà. Nhiều gia đình có cả 4, 5 người cùng đi hái trà nên thu nhập một ngày cũng được vài trăm ngàn, tốt hơn rất nhiều những công việc khác, kể cả việc họ trồng trà trên những công đất nhà mình. Nói về điều này, người bạn của tôi giải thích, nếu trồng trà phải bỏ tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu mà khi thu hoạch cũng chỉ có thể bán búp trà cho các doanh nghiệp trà khác với giá rẻ. Vì thế, người dân ở đây thay vì bỏ vốn họ thường đi hái trà để thu được ngay số tiền mà họ cần. Với các doanh nghiệp trà, do sở hữu số lượng lớn cộng thêm một vòng quay trồng và sản xuất, tiêu thụ khép kín nên họ vẫn có lãi từ việc trồng trà. Đó chính là lý do vì sao ở đây có nhiều doanh nghiệp trà của những ông chủ giàu có nhưng lại ít có những ruộng trà dạng tiểu điền của từng hộ dân.
Nhìn những bóng người mờ ảo trôi trong một màu xanh bất tận của những đồi trà bên cạnh, bất giác chúng tôi không khỏi nao lòng. Cảm giác về số phận những người làm cho đời những giọt trà thơm ngon. Hình như, bất cứ ai mang đến cho đời những tinh túy của đất trời đều gian nan, vất vả như vậy.
Có một sự thực trớ trêu là mặc dù những thương hiệu trà ô long, túy ngọc, kim tuyên…được đông đảo người dân cả nước biết đến bởi sự tinh tế, độc đáo, nhưng với những công nhân hái trà này, nó như một thứ đặc sản xa xôi. Hình như, không riêng gì những công nhân hái trà, mà hầu hết những người nông dân khác, những đôi bàn tay trực tiếp tạo ra những sản phẩm kiểu đặc sản của vùng đất ấy lại ít khi được thưởng thức sản phẩm của mình.
Read more…
![]() |
| hình ảnh đồi chè xanh bát ngát tại Bảo Lộc |
Từ lâu, do địa hình thung lũng cao nguyên nên nơi đây được mệnh danh bằng cái tên khá thân thiện - thành phố mù sương, bởi quanh năm sương mờ cứ giăng mắc khắp các ngóc ngách nơi này. Quả thật, từ sáng sớm, khi theo chân người bạn đồng hành đi về phía những đồi trà ven ngoại ô thành phố, chúng tôi như bị chìm đi trong làn sương mờ ảo. Một cảm giác mông lung, nhập nhòa giữa trời đất, giữa con người và vật, giữa hư vô và thực tại khiến bao nhiêu mệt nhọc, lo toan đã bị sương lắng xuống để người ta được chìm vào một thế giới khác. Thế giới của trà và trà. Theo quan sát của chúng tôi, tất cả những công nhân hái trà ở đây đều có một đặc điểm chung, đó là luôn đội một chiếc nón trắng để che nắng vì họ phải làm việc cả ngày dưới ánh mặt trời mà thường đeo một chiếc gùi trên vai để đựng sản phẩm của mình. Những chiếc nón kia cứ lặng lẽ, cần mẫn mà ít khi ngẩng lên. Dưới những bóng nón đó, những phận người cũng cần mẫn, chăm chỉ với công việc của mình. Công việc làm lên những giọt trà tinh khiết của mảnh đất này.
Thoạt nhìn, công việc của người hái trà khá đơn giản nhưng xem kỹ, nó cũng rất tỷ mỷ. Cụ thể, theo chị Ka Sâm - một công nhân hái trà ở Đại Lào (TP.Bảo Lộc) thì không phải cứ vặt búp trà là được mà phải vặt sao cho búp trà thu được có đúng 2 lá 1 tôm thì chủ họ mới chấp nhận, bởi trà ở đây đều làm để xuất khẩu, để phục vụ những khách uống trà sành điệu. Trà mà hái không đạt chuẩn, có nhiều lá quá cũng không được bởi lúc chế biến, lá sẽ làm giảm vị thơm ngon, mất đi tinh chất của trà. Còn nếu ít lá, khi sao trà sẽ bị teo nhỏ, nhìn không đẹp mắt. Có thể nói, mỗi búp trà là sự kết hợp giữ đọt tôm và lá non. Ở đó, lá non nhiều sẽ làm trà thêm đắng mà lá ít thì sẽ làm trà thêm nhạt. Chính vì sự cầu kỳ và chính xác mà người hái trà cũng phải làm việc thận trọng hơn.
Có một sự thực trớ trêu là mặc dù những thương hiệu trà ô long, túy ngọc, kim tuyên…được đông đảo người dân cả nước biết đến bởi sự tinh tế, độc đáo nhưng với những công nhân hái trà này, nó như một thứ đặc sản xa xôi. Hình như, không riêng gì những công nhân hái trà, mà hầu hết những người nông dân khác, những đôi bàn tay trực tiếp tạo ra những sản phẩm kiểu đặc sản của vùng đất ấy lại ít khi được thưởng thức sản phẩm của mình.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, thực ra "vương quốc” trà Bảo Lộc không chỉ gói gọn trong phạm vi của thành phố Bảo Lộc mà nó còn lan rộng ra cả các huyện lân cận cho tới cao nguyên Di Linh, giáp ranh với thành phố Đà Lạt do thổ nhưỡng và khí hậu của chúng khá tương đồng. Dọc theo các tuyến quốc lộ 20, quốc lộ 55, quốc lộ 28 và những tỉnh lộ trải nhựa đan xen là những ruộng trà trải dài. Sự tích cây trà trên cao nguyên này có từ khi người Pháp lần đầu đặt chân tới đây nhưng nó chỉ thực sự phát triển thành thương hiệu với hàng trăm ngàn hecta trong vài chục năm trở lại đây mà thôi. Vì thế, ngoài những cây trà shan cổ thụ, ở Bảo Lộc trà có độ tuổi chừng 30 năm và được hình thành bởi các làng, chủ yếu là người dân nhập cư ở miền xuôi lên, trong đó có cả những người ngoại quốc, đặc biệt là Đài Loan. Họ thường là các ông chủ đầu tư tiền của để làm trang trại trà, có khi rộng tới hàng chục hecta.
![]() |
| Người dân thu hoạch chè tại Bảo Lộc |
Mặt trời lên cao, sương mờ tan nhanh cũng là lúc chúng tôi nhận ra rằng, cuộc sống của những công nhân hái trà mà đa phần là phụ nữ, người già này không đẹp đẽ, nên thơ như những đồi trà mà chúng tôi nhìn thấy từ xa xa ven đường quốc lộ 20 chạy vắt ngang thành phố. Với họ, những nông dân nghèo xứ cao nguyên này, cuộc mưu sinh lúc nào cũng luôn chật vật và bấp bênh. Theo tìm hiểu, bắt đầu từ tháng 4, khi những cơn mưa phùn xuất hiện nơi này cũng là lúc những đồi trà nảy lên vô vàn lộc biếc, mầm non để tạo cho đời những nụ trà thơm hương. Nó không chỉ là lộc của cây mà còn là lộc của trời, của đất giao hòa, chắt chiu từ hàng ngàn năm qua, dưới trầm tích của những lớp đất đỏ bazan màu mỡ nơi đây. Theo chị Ka Thái, một nông dân ở xã Lộc Thành (huyện Bảo Lâm) thì từ khoảng 5 giờ sáng là chị cùng mấy chục người trong xóm lại cùng nhau đem bao bố lên những đồi trà này để hái. Công việc cũng khá đơn giản nhưng vất vả bởi phải làm việc liên tục lại vừa phải di chuyển. Mỗi người đều trang bị cho mình một chiếc gùi bằng tre đeo trên lưng. Họ di chuyển qua những luống trà, hai tay hái những chiếc búp non liên tục. Tiền công hái sẽ được các chủ trang trại trà tính theo sản phẩm. Cụ thể, mỗi ký búp trà sẽ được trả 3.000 đồng. Trung bình, một người có thể hái được từ 15 đến 25 ký lô búp trà một ngày, tùy theo sức khỏe. Hiện đang là đầu vụ trà nên giá công thấp hơn so với mặt bằng chung bởi có nhiều đồi trà, lượng mưa chưa đủ nên búp chưa xuất hiện. Theo chị Ka, khoảng chừng hơn nửa tháng nữa mưa nhiều cũng là lúc trà nảy búp, công nhân thường hái không kịp. Khi ấy, để đảm bảo năng suất và tránh việc lãng phí do búp trà già đi, các chủ thường tăng lương cho công nhân hái. Nhiều trang trại trả từ 3.500 đến 4.000 đồng/ký búp trà còn kèm theo cả một ổ bánh mì thịt vào mỗi sáng để thu hút lao động. Sau đó, công nhân đem trà về trang trại và được trả công hàng tuần bằng tổng số lượng trà mình hái được.
Mặc dù công việc hái trà khá vất vả bởi phải di chuyển trên những triền đồi thoai thoải nhưng dường như với những người công nhân này, đó vẫn là niềm hạnh phúc bởi họ chỉ có 5 tháng trong một năm để gắn bó với công việc của mình. Từ đầu tháng 4 cho tới tháng 8, khi mưa phùn ít đi cũng là lúc trà không thể ra búp non nữa. Vì vậy, những người phụ nữ ở đây đều tranh thủ thời gian này để đi hái trà. Nhiều gia đình có cả 4, 5 người cùng đi hái trà nên thu nhập một ngày cũng được vài trăm ngàn, tốt hơn rất nhiều những công việc khác, kể cả việc họ trồng trà trên những công đất nhà mình. Nói về điều này, người bạn của tôi giải thích, nếu trồng trà phải bỏ tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu mà khi thu hoạch cũng chỉ có thể bán búp trà cho các doanh nghiệp trà khác với giá rẻ. Vì thế, người dân ở đây thay vì bỏ vốn họ thường đi hái trà để thu được ngay số tiền mà họ cần. Với các doanh nghiệp trà, do sở hữu số lượng lớn cộng thêm một vòng quay trồng và sản xuất, tiêu thụ khép kín nên họ vẫn có lãi từ việc trồng trà. Đó chính là lý do vì sao ở đây có nhiều doanh nghiệp trà của những ông chủ giàu có nhưng lại ít có những ruộng trà dạng tiểu điền của từng hộ dân.
![]() |
| Để có được búp chè thơm ngon người dân Bảo Lộc phải chăm sóc rất kỹ càng |
Nhìn những bóng người mờ ảo trôi trong một màu xanh bất tận của những đồi trà bên cạnh, bất giác chúng tôi không khỏi nao lòng. Cảm giác về số phận những người làm cho đời những giọt trà thơm ngon. Hình như, bất cứ ai mang đến cho đời những tinh túy của đất trời đều gian nan, vất vả như vậy.
Có một sự thực trớ trêu là mặc dù những thương hiệu trà ô long, túy ngọc, kim tuyên…được đông đảo người dân cả nước biết đến bởi sự tinh tế, độc đáo, nhưng với những công nhân hái trà này, nó như một thứ đặc sản xa xôi. Hình như, không riêng gì những công nhân hái trà, mà hầu hết những người nông dân khác, những đôi bàn tay trực tiếp tạo ra những sản phẩm kiểu đặc sản của vùng đất ấy lại ít khi được thưởng thức sản phẩm của mình.
ĐOÀN ĐẠI TRÍ (Báo Đại Đoàn Kết)









